Bảo hiểm Prudential cố tình gây khó dễ cho khách hàng?

Có 6 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD của Việt Nam

Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 01/2024,  xuất khẩu có 6 thị trường và nhóm thị trường đạt trên 1 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt trên 10 tỷ USD.

Số liệu mới công bố của Tổng cục Hải quan cho thấy, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 65,43 tỷ USD, tăng 7,5% so với tháng 12/2023. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 34,53 tỷ USD, tăng 9,7% (tương ứng tăng 3,07 tỷ USD); nhập khẩu đạt 30,9 tỷ USD, tăng 5,1% (tương ứng tăng 1,49 tỷ USD). Cán cân thương mại hàng hóa tháng 01/2024 thặng dư 3,63 tỷ USD.

So với tháng 01/2023, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 01/2024 tăng 40,3%; trong đó xuất khẩu tăng 46%, tương ứng tăng 10,89 tỷ USD và nhập khẩu tăng 34,4%, tương ứng tăng 7,91 tỷ USD.

Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng đạt 44,52 tỷ USD, tăng 9,4% so với tháng trước và tăng 32,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó xuất khẩu đạt 24,87 tỷ USD, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 19,65 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 01/2023 có mức thặng dư đạt 5,22 tỷ USD.

Liên quan đến thị trường xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan cũng cho biết, trong tháng đầu tiên của năm 2024, xuất khẩu có 6 thị trường và nhóm thị trường đạt trên 1 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt trên 10 tỷ USD. Đáng chú ý, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang tất cả các thị trường/khu vực thị trường trên 1 tỷ USD này đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Có 6 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD của Việt Nam- Ảnh 1.

Cụ thể, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 10,05 tỷ USD, tăng 64% (tương ứng tăng 3,91 tỷ USD); EU (27 nước) đạt 4,6 tỷ USD, tăng 40% (tương ứng tăng 1,32 tỷ USD); Trung Quốc đạt 4,56 tỷ USD, tăng 19% (tương ứng tăng 714 triệu USD); ASEAN đạt 3,2 tỷ USD, tăng 47% (tương ứng tăng 1,02 tỷ USD); Hàn Quốc đạt 2,34 tỷ USD, tăng 38% (tương ứng tăng 646 triệu USD) và Nhật Bản đạt 2,23 tỷ USD, tăng 45% (tương ứng tăng 690 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, nhập khẩu có 7 thị trường và nhóm thị trường đạt trên 1 tỷ USD, riêng Trung Quốc đóng góp tới 60% vào tăng trị giá nhập khẩu của cả nước so với tháng 01/2023.

Trong tháng 01/2024, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp hàng hóa cho nước ta. Nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc là 11,88 tỷ USD, tăng mạnh 65%, tương ứng tăng tới 4,66 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, trong 7,9 tỷ USD tăng nhập khẩu của cả nước so với tháng 01/2023 thì tăng nhập khẩu sang Trung Quốc đã chiếm tới 60%, chủ yếu do tăng nhập khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại và sản phẩm (ba nhóm hàng này tăng 2,81 tỷ USD).

Tiếp theo là nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc đạt 4,19 tỷ USD, tăng 7,3% (tương ứng tăng 285 triệu USD); ASEAN đạt 3,62 tỷ USD, tăng 20,2% (tương ứng tăng 609 triệu USD); Nhật Bản đạt 1,95 tỷ USD, tăng 16,4% (tương ứng tăng 275 triệu USD; Đài Loan đạt 1,94 tỷ USD, tăng 32% (tương ứng tăng 470 triệu USD); EU đạt 1,31 tỷ USD, tăng 28,3% (tương ứng tăng 289 triệu USD); Hoa Kỳ đạt 1,24 tỷ USD, tăng 33% (tương ứng tăng 310 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa, Tổng cục Hải quan cũng cho biết, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 01/2024 đạt 34,53 tỷ USD, đạt mức cao nhất kể từ tháng 8/2022, tăng 9,7% so với tháng trước và tăng 46% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô hàng hóa xuất khẩu của nước ta trong tháng 01/2024 đã tăng 3,07 tỷ USD so với tháng trước và tăng tới 10,89 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trị giá xuất khẩu hàng hóa tháng 01/2024 tăng chủ yếu do nhóm điện thoại các loại và linh kiện tăng 50,4%, tương ứng tăng 1,87 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu cả nước tháng 01/2024 có 44/45 nhóm hàng chính tăng (trừ dầu thô giảm 15,9%). Trong đó, mức tăng tuyệt đối ghi nhận tăng nhiều đối với nhóm hàng công nghiệp như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 68,3%, tương ứng tăng 2,17 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 38,7%, tương ứng tăng 1,21 tỷ USD; hàng dệt may tăng 39%, tương ứng tăng 877 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 83,1%, tương ứng tăng 667 triệu USD; giầy dép các loại tăng 43,8%, tương ứng tăng 600 triệu USD;...